Xóa sổ băng giang hồ đất cảng cướp 30 vụ bằng súng
Nhãn:
Dân Chơi,
Tin Vip
Ngày 13/12, Công an Thành phố Hải Phòng cho biết, đã bắt giữ nhóm đối tượng gây ra vụ cướp giật và bắn trọng thương nạn nhân trên đường Nguyễn Đức Cảnh gây bức xúc trong dư luận ít ngày trước.


Theo đó, 4 đối tượng bị bắt gồm Đoàn Vũ Hoà (SN 1979, thường tại số 127 Lán Bè, Lam Sơn, Lê Chân, Hải Phòng, đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Chương Mỹ, Hà Nội truy nã của về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng); Phan Lê Duy Phương (SN 1984, thường trú tại 2B/16/29/302 Văn Cao, Hải An, Hải Phòng); Đoàn Văn Nhã (SN 1986, thường trú tại An Khê, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng) và Trần Văn Hanh, sinh 1980, ở số 16/57/313 Đà Nẵng, Ngô Quyền, Hải Phòng).
Trước đó, khoảng 15h30’ ngày 5/12/2012, tại khu vực cổng vườn hoa Kim Đồng, quận Hồng Bàng, Hải Phòng, khi anh Phạm Tùng Sơn (SN 1986, ở Hồng Bàng, Hải Phòng) đang đi xe máy trên đường và nghe điện thoại thì bất ngờ bị nhóm này áp sát, giật chiếc điện thoại đắt tiền. Bị mất của, anh Sơn tăng ga truy đuổi và nhận được sự hỗ trợ của hai công an phường khi đó vô tình có mặt tại hiện trường.
Bị truy đuổi gắt gao, nhóm cướp bất ngờ rút súng bắn về phía anh Sơn. Đạn xuyên qua yếm xe, găm vào chân của anh Sơn. Lúc này, hai công an buộc phải dừng xe, đưa anh Sơn đi cấp cứu. Ngay sau đó, các bác sĩ Bệnh viện Việt – Tiệp đã phải mổ cấp cứu để lấy viên đạn trong chân nạn nhân ra.
| |
| Hai đối tượng Nhã và Phương cùng tang vật vụ cướp ở Hải Dương |
Trước tính chất nghiêm trọng của vụ việc, Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng đã chỉ đạo Phòng PC45 xác lập chuyên án 012G, phối hợp chặt chẽ với các phòng nghiệp vụ và công an các quận, huyện tiến hành đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ để xác minh, điều tra.
Với các tài liệu thu thập được, đến 20h30 ngày 12/12/2012, Ban chuyên án đã quyết định phá án, bắt 4 đối tượng Hòa – Phương – Nhã và Hanh.
Lực lượng chức năng đã thu giữ 2 súng trong đó có 1 khẩu K54 thu tại nhà của Hanh, 4 dao - kiếm, 9 viên đạn, 1 vam phá khóa xe máy, 19 túi xách, ví các loại; 6 ống thuỷ tinh để sử dụng ma tuý và tang vật như búa, kìm cộng lực…
Qua đấu tranh khai thác, các đối tượng khai nhận đã gây ra vụ án trên và hơn 30 vụ cướp, cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Trong đó, điển hình là vụ xảy ra khoảng 14h ngày 24/11, tại trước cửa số nhà 35D Quang Trung, phường Quang Trung, Hải Dương, hai đối tượng Phương và Nhã đã dùng súng khống chế, bắn trượt, sau đó dùng dao đâm vào đùi chị Nguyễn Thị Hồng Phượng (SN 1975, ở khu 3 Trần Cảnh, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương) và cướp đi xe mô tô Honda SH màu trắng.
Liên quan đến chuyên án này, cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra nhà Luyện Thị Huyền Trinh (SN 1985, ở Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng) nhưng hiện tại đối tượng này chưa bị bắt.
Hiện Giám đốc Công an thành phố chỉ đạo Phòng PC45 phối hợp với các đơn vị chức năng tập trung xác minh, mở rộng án và hoàn chỉnh hồ sơ, xử lý nghiêm các đối tượng theo qui định của pháp luật.
Thuê rèn hung khí dễ như... mua rau!
Nhãn:
Dân Chơi,
Tin Vip
“Kiếm Nhật” giá 1,2 triệu đồng
H., một dân anh chị có tiếng ở khu vực Q.Thanh Xuân (TP.Hà Nội), cho hay để có một thanh kiếm kiểu Nhật, đôi mã tấu hoặc cặp dao phớ dài cả mét cũng chẳng khó chút nào. Chỉ cần đến bất kỳ một lò rèn nào đó ở Đa Sĩ, chỉ qua cho họ thấy món đồ mình cần làm, sau đó đặt tiền, rồi chờ đến ngày nhận hàng.
Để xác thực thông tin, chúng tôi cầm theo tấm ảnh chụp thanh kiếm Nhật dài hơn 1 m đút trong vỏ có nạm bạc, khắc hình nổi mấy con rồng hẳn hoi, đến Đa Sĩ “đặt hàng”. Xe vừa tới đầu làng, đã thấy rất nhiều lò rèn, cửa hàng trưng bày bán đủ loại dao cắt, dao phay, kéo, dao quắm, thuổng... Chọn một cửa hàng to nhất, có bày bán khá nhiều loại rìu, chúng tôi bước vào bên trong. Chủ cửa hàng là người đàn ông dáng vẻ phương phi, xấp xỉ ngũ tuần, cởi mở mời chào khách. Vừa thoạt nghe qua yêu cầu của chúng tôi, ông này gật đầu lia lịa mà chẳng cần hỏi mục đích của việc đặt món hàng này làm gì. Chỉ vào đám thợ mình trần, mồ hôi nhễ nhại, đang ra sức quai búa, ông chủ tiếp thị: “Làng nghề Đa Sĩ bắt đầu bằng việc làm nông cụ sản xuất, rồi rèn đủ thứ loại vũ khí lợi hại để chống lại kẻ thù xâm lăng, nên việc làm mấy cây đao, thanh kiếm, dao phớ... chỉ là chuyện nhỏ”. Với thanh kiếm như trong bức ảnh, ông này nói chắc nịch thợ của ông chỉ mất đúng 3 ngày để hoàn thành. Theo đó, phần lưỡi kiếm to bản tới 5 phân, vát đầu, mài trắng toàn bộ, dài đúng 1,15 m. Còn phần chuôi kiếm dài 30 cm sẽ được gia công tại các xưởng đồ mộc trong làng... Rồi ông ra giá 1,2 triệu đồng, 3 ngày sau đến lấy hàng.
Thấy tôi chê đắt hơn kiếm bán ở nhiều khu vực khác, chủ cửa hàng này cười khì: “Nếu thằng em thích làm kiếm Nhật giá chỉ độ 400.000 - 500.000 đồng thì anh cũng chiều. Nhưng khi về đem “chiến” nhau thì đừng có nói ông anh không báo trước. Cách đây vài tháng cũng có mấy thằng choai choai dùng kiếm Tàu mua ở Lạng Sơn, nhìn ngoài trông sáng loáng, nhưng mới chỉ chém vào cạnh bàn, nhẹ hơn là chém vào thân cây tươi bên đường thì đã bị quằn lưỡi và gãy đôi”. Chưa hết, theo lời người đàn ông này, khác với kiếm Tàu được làm bằng tôn, kiếm ở làng Đa Sĩ được rèn bằng thép lấy từ nhíp ô tô, sẽ cho chất lượng vượt trội, tính sát thương cao, nên dân anh chị rất ưa dùng. Cũng theo người chủ cửa hàng này, nếu khách đặt làm số lượng nhiều, giá mỗi thanh kiếm chỉ còn 1,1 triệu đồng.
Làm bao nhiêu cũng có
Tại một số lò rèn khác trong làng, những người chủ cũng không bận tâm xem chúng tôi đặt làm kiếm sử dụng vào mục đích gì mà chỉ chăm chăm tới số lượng đơn đặt hàng. Khi chúng tôi ngỏ lời đặt làm những loại hung khí mà công an thường thu được từ các băng nhóm tội phạm, như đao, đoản kiếm, giáo mác, dao phớ, rìu... với số lượng lớn, nhiều chủ lò rèn đều nhận lời. Theo đó, một cây đao to bản bằng bàn tay, dài 60 cm, thêm phần chuôi cán 30 cm có giá 500.000 đồng; một cặp dao phớ dài 75 cm, chuôi dài 25 cm, có giá 650.000 đồng; một cây rìu lưỡi cũng làm bằng thép nhíp ô tô, có cán dài 50 cm, giá 150.000 đồng... “Tôi thấy bọn thanh niên choai choai bây giờ hay đặt làm loại dao phớ, đoản đao dài từ 50 - 70 cm, vì chúng dễ cất dưới yên xe máy. Khi hỏi thì chúng bảo tôi lắm chuyện, chỉ mang theo người để phòng vệ, ra đường đỡ bị bắt nạt”, một chủ lò rèn ở Đa Sĩ cho biết. Cũng theo chủ lò này, để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ, dân anh chị hay đám thanh niên khi tới lấy hàng thường đem theo những chiếc túi đựng vợt tennis, cầu lông, túi đựng cần câu cá để chứa đao, kiếm, dao phớ... Và thời gian giao nhận hàng thường vào giữa trưa.
Khó kiểm soát
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Bùi Văn Bằng, Phó chủ tịch UBND P.Kiến Hưng, cho biết: “Do là làng nghề, cũng như lịch sử để lại nên toàn bộ số hộ làm rèn đều thông thạo việc sản xuất những loại vũ khí thô sơ như kiếm, đại đao, đoản đao, giáo mác, dao phớ... Nhưng cách đây khoảng 2 năm, khi mà trên địa bàn TP.Hà Nội liên tục xảy ra nhiều vụ dùng hung khí để thanh toán, đòi nợ..., thì chính quyền phường đã kết hợp cùng lực lượng công an triển khai ký cam kết với các hộ làm nghề rèn không được sản xuất, buôn bán các loại vũ khí thô sơ kể trên. Nếu hộ nào bị phát hiện thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và buộc thôi hành nghề. Ngoài ra, chính quyền phường còn thường xuyên tổ chức kiểm tra các cơ sở sản xuất, tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa phát hiện được hộ nào vi phạm như cam kết”.
Trong khi đó, ông Hoàng Quốc Chính, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề rèn Đa Sĩ, cho hay trong tổng số 4.500 hộ dân trên toàn phường thì có đến 3.562 hộ liên quan đến nghề rèn. Nhiều hộ ở làng Đa Sĩ vẫn nhận đơn đặt hàng sản xuất những loại đao, kiếm, giáo mác… Nhưng đây là sản xuất phục vụ cho các đoàn biểu diễn nghệ thuật. Tuy nhiên, ông Chính cũng thẳng thắn thừa nhận: “Tất cả các lò rèn ở Đa Sĩ đều được đặt trong khuôn viên của mỗi hộ gia đình nên việc kiểm tra phát hiện việc sản xuất vũ khí thô sơ theo đúng đơn đặt hàng của các đoàn nghệ thuật, quả thật là rất khó kiểm soát”. Cũng theo ông Chính, với dân làng nghề Đa Sĩ, việc làm ra những thanh đao, cây kiếm, mã tấu… là việc quá đỗi đơn giản, nên không ngoại trừ một số hộ gia đình do ham lợi nhuận nên vẫn âm thầm nhận làm. “Nói là cấm triệt để, không còn hộ nào làm vũ khí thô sơ là không có, chỉ trông chờ vào lương tâm của mỗi người thợ rèn thôi”, ông Chính chia sẻ.
Một chủ lò rèn nằm ở cuối làng Đa Sĩ “bật mí”: để tránh bị để ý, nhiều hộ ngoài đường lớn làm dao phớ, đao, kiếm bằng tôn và dùng máy để rút dài chứ không dùng đe (để tránh tiếng ồn - PV). Nhưng như vậy loại dao, kiếm này chỉ để trưng bày cho đẹp mắt. Còn để “làm việc”, thị uy đối phương thì hung khí phải rèn bằng búa nện trên đe. Hung khí được làm như vậy có đem ra chặt gỗ nghiến lưỡi cũng không bị mẻ hay quằn. “Phải nhìn vào thân con dao, thanh kiếm, nếu phát hiện những vết lõm, vết “rỗ” thì đích thị là đồ rèn bằng thép. Còn nếu thân thanh kiếm mà cứ nhẵn thín, phẳng lì, là được làm từ tôn và kéo bằng máy chứ không qua rèn, nhìn đẹp nhưng không sắc và rất dễ gãy”, chủ lò rèn này nói.
Thời gian gần đây, dân anh chị thường rỉ tai nhau về làng rèn Đa Sĩ thuộc P.Kiến Hưng (Q.Hà Đông, TP.Hà Nội), để đặt “hàng” theo ý muốn, thay vì phải mất công đi mấy trăm cây số lên các chợ cửa khẩu biên giới Lạng Sơn để sắm.
Làng rèn Đa Sĩ nằm ở cửa ngõ phía tây nam Thủ đô Hà Nội, vốn nổi tiếng với nghề làm dao, kéo từ bao đời nay. Hiện làng có tới 2/3 số hộ dân theo nghề rèn. Khắp đường làng, đâu cũng nghe tiếng búa nện vào đe chát chúa, những xe tải vào ra kìn kìn đưa hàng đi đổ buôn... Chính bởi sản phẩm rèn Đa Sĩ rất được ưa chuộng trên thị trường vì chất lượng tốt, giá cả hợp lý, nên nhiều người từ nơi khác, thậm chí cả dân xã hội đen cũng đến đặt mua.| Tôi thấy bọn thanh niên choai choai bây giờ hay đặt làm loại dao phớ, đoản đao dài từ 50 - 70 cm, vì chúng dễ cất dưới yên xe máy. Khi hỏi thì chúng bảo tôi lắm chuyện, chỉ mang theo người để phòng vệ, ra đường đỡ bị bắt nạt | ||
| Một chủ lò rèn ở làng Đa Sĩ, Hà Nội | ||
H., một dân anh chị có tiếng ở khu vực Q.Thanh Xuân (TP.Hà Nội), cho hay để có một thanh kiếm kiểu Nhật, đôi mã tấu hoặc cặp dao phớ dài cả mét cũng chẳng khó chút nào. Chỉ cần đến bất kỳ một lò rèn nào đó ở Đa Sĩ, chỉ qua cho họ thấy món đồ mình cần làm, sau đó đặt tiền, rồi chờ đến ngày nhận hàng.
Để xác thực thông tin, chúng tôi cầm theo tấm ảnh chụp thanh kiếm Nhật dài hơn 1 m đút trong vỏ có nạm bạc, khắc hình nổi mấy con rồng hẳn hoi, đến Đa Sĩ “đặt hàng”. Xe vừa tới đầu làng, đã thấy rất nhiều lò rèn, cửa hàng trưng bày bán đủ loại dao cắt, dao phay, kéo, dao quắm, thuổng... Chọn một cửa hàng to nhất, có bày bán khá nhiều loại rìu, chúng tôi bước vào bên trong. Chủ cửa hàng là người đàn ông dáng vẻ phương phi, xấp xỉ ngũ tuần, cởi mở mời chào khách. Vừa thoạt nghe qua yêu cầu của chúng tôi, ông này gật đầu lia lịa mà chẳng cần hỏi mục đích của việc đặt món hàng này làm gì. Chỉ vào đám thợ mình trần, mồ hôi nhễ nhại, đang ra sức quai búa, ông chủ tiếp thị: “Làng nghề Đa Sĩ bắt đầu bằng việc làm nông cụ sản xuất, rồi rèn đủ thứ loại vũ khí lợi hại để chống lại kẻ thù xâm lăng, nên việc làm mấy cây đao, thanh kiếm, dao phớ... chỉ là chuyện nhỏ”. Với thanh kiếm như trong bức ảnh, ông này nói chắc nịch thợ của ông chỉ mất đúng 3 ngày để hoàn thành. Theo đó, phần lưỡi kiếm to bản tới 5 phân, vát đầu, mài trắng toàn bộ, dài đúng 1,15 m. Còn phần chuôi kiếm dài 30 cm sẽ được gia công tại các xưởng đồ mộc trong làng... Rồi ông ra giá 1,2 triệu đồng, 3 ngày sau đến lấy hàng.
Thấy tôi chê đắt hơn kiếm bán ở nhiều khu vực khác, chủ cửa hàng này cười khì: “Nếu thằng em thích làm kiếm Nhật giá chỉ độ 400.000 - 500.000 đồng thì anh cũng chiều. Nhưng khi về đem “chiến” nhau thì đừng có nói ông anh không báo trước. Cách đây vài tháng cũng có mấy thằng choai choai dùng kiếm Tàu mua ở Lạng Sơn, nhìn ngoài trông sáng loáng, nhưng mới chỉ chém vào cạnh bàn, nhẹ hơn là chém vào thân cây tươi bên đường thì đã bị quằn lưỡi và gãy đôi”. Chưa hết, theo lời người đàn ông này, khác với kiếm Tàu được làm bằng tôn, kiếm ở làng Đa Sĩ được rèn bằng thép lấy từ nhíp ô tô, sẽ cho chất lượng vượt trội, tính sát thương cao, nên dân anh chị rất ưa dùng. Cũng theo người chủ cửa hàng này, nếu khách đặt làm số lượng nhiều, giá mỗi thanh kiếm chỉ còn 1,1 triệu đồng.
![]() ![]() ![]() Thanh kiếm kiểu Nhật được rèn với giá 1,2 triệu đồng |
Tại một số lò rèn khác trong làng, những người chủ cũng không bận tâm xem chúng tôi đặt làm kiếm sử dụng vào mục đích gì mà chỉ chăm chăm tới số lượng đơn đặt hàng. Khi chúng tôi ngỏ lời đặt làm những loại hung khí mà công an thường thu được từ các băng nhóm tội phạm, như đao, đoản kiếm, giáo mác, dao phớ, rìu... với số lượng lớn, nhiều chủ lò rèn đều nhận lời. Theo đó, một cây đao to bản bằng bàn tay, dài 60 cm, thêm phần chuôi cán 30 cm có giá 500.000 đồng; một cặp dao phớ dài 75 cm, chuôi dài 25 cm, có giá 650.000 đồng; một cây rìu lưỡi cũng làm bằng thép nhíp ô tô, có cán dài 50 cm, giá 150.000 đồng... “Tôi thấy bọn thanh niên choai choai bây giờ hay đặt làm loại dao phớ, đoản đao dài từ 50 - 70 cm, vì chúng dễ cất dưới yên xe máy. Khi hỏi thì chúng bảo tôi lắm chuyện, chỉ mang theo người để phòng vệ, ra đường đỡ bị bắt nạt”, một chủ lò rèn ở Đa Sĩ cho biết. Cũng theo chủ lò này, để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ, dân anh chị hay đám thanh niên khi tới lấy hàng thường đem theo những chiếc túi đựng vợt tennis, cầu lông, túi đựng cần câu cá để chứa đao, kiếm, dao phớ... Và thời gian giao nhận hàng thường vào giữa trưa.
![]() Nhiều loại hung khí bị Lực lượng 141 Công an Hà Nội bắt giữ - Ảnh: Minh Sang |
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Bùi Văn Bằng, Phó chủ tịch UBND P.Kiến Hưng, cho biết: “Do là làng nghề, cũng như lịch sử để lại nên toàn bộ số hộ làm rèn đều thông thạo việc sản xuất những loại vũ khí thô sơ như kiếm, đại đao, đoản đao, giáo mác, dao phớ... Nhưng cách đây khoảng 2 năm, khi mà trên địa bàn TP.Hà Nội liên tục xảy ra nhiều vụ dùng hung khí để thanh toán, đòi nợ..., thì chính quyền phường đã kết hợp cùng lực lượng công an triển khai ký cam kết với các hộ làm nghề rèn không được sản xuất, buôn bán các loại vũ khí thô sơ kể trên. Nếu hộ nào bị phát hiện thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và buộc thôi hành nghề. Ngoài ra, chính quyền phường còn thường xuyên tổ chức kiểm tra các cơ sở sản xuất, tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa phát hiện được hộ nào vi phạm như cam kết”.
Trong khi đó, ông Hoàng Quốc Chính, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề rèn Đa Sĩ, cho hay trong tổng số 4.500 hộ dân trên toàn phường thì có đến 3.562 hộ liên quan đến nghề rèn. Nhiều hộ ở làng Đa Sĩ vẫn nhận đơn đặt hàng sản xuất những loại đao, kiếm, giáo mác… Nhưng đây là sản xuất phục vụ cho các đoàn biểu diễn nghệ thuật. Tuy nhiên, ông Chính cũng thẳng thắn thừa nhận: “Tất cả các lò rèn ở Đa Sĩ đều được đặt trong khuôn viên của mỗi hộ gia đình nên việc kiểm tra phát hiện việc sản xuất vũ khí thô sơ theo đúng đơn đặt hàng của các đoàn nghệ thuật, quả thật là rất khó kiểm soát”. Cũng theo ông Chính, với dân làng nghề Đa Sĩ, việc làm ra những thanh đao, cây kiếm, mã tấu… là việc quá đỗi đơn giản, nên không ngoại trừ một số hộ gia đình do ham lợi nhuận nên vẫn âm thầm nhận làm. “Nói là cấm triệt để, không còn hộ nào làm vũ khí thô sơ là không có, chỉ trông chờ vào lương tâm của mỗi người thợ rèn thôi”, ông Chính chia sẻ.
Một chủ lò rèn nằm ở cuối làng Đa Sĩ “bật mí”: để tránh bị để ý, nhiều hộ ngoài đường lớn làm dao phớ, đao, kiếm bằng tôn và dùng máy để rút dài chứ không dùng đe (để tránh tiếng ồn - PV). Nhưng như vậy loại dao, kiếm này chỉ để trưng bày cho đẹp mắt. Còn để “làm việc”, thị uy đối phương thì hung khí phải rèn bằng búa nện trên đe. Hung khí được làm như vậy có đem ra chặt gỗ nghiến lưỡi cũng không bị mẻ hay quằn. “Phải nhìn vào thân con dao, thanh kiếm, nếu phát hiện những vết lõm, vết “rỗ” thì đích thị là đồ rèn bằng thép. Còn nếu thân thanh kiếm mà cứ nhẵn thín, phẳng lì, là được làm từ tôn và kéo bằng máy chứ không qua rèn, nhìn đẹp nhưng không sắc và rất dễ gãy”, chủ lò rèn này nói.
Đại gia Việt bỏ 5 triệu đồng 1 con tu hài
Nhãn:
Dân Chơi,
Tin Vip
Đại gia Việt ngày càng khẳng định độ chịu chơi khi liên tục cập nhật vào thực đơn những món đắt giá. Tu hài nhập khẩu từ Canada đang là món yêu thích bởi tin đồn về khả ng tráng dương thần kỳ của loại họ ốc này.
Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001, hiện nay tu hài Canada - vua của các loài trai được một số nhà hàng hải sản của Hà Nội như Nhất Thống, Red House, San Hô, Louis... sử dụng để chế biến món cho các đại gia lắm tiền nhiều của với giá không hề rẻ: 1,9 - 2,5 triệu đồng/kg.
Tại các nhà hàng, tu hài nhập khẩu trực tiếp từ Canada, được thả trong bể và chăm sóc với một chế độ đặc biệt.
Theo đó, nước trong bể phải luôn sạch và ổn định ở nhiệt độ 10 độ C, thực khách có thể tự mình chọn lấy những con ngon nhất.
Tu hài có hình dáng sinh động kì lạ, mà người Việt Nam lại quan niệm gì bổ nấy nên tu hài được nhiều người cho rằng tu hài đặc biệt tốt với nam giới, có tác dụng cải thiện rõ rệt khả ng sinh lý.
Một nhân viên nhà hàng hải sản cao cấp ở hồ Trúc Bạch tiết lộ, rất nhiều thực khách của nhà hàng thích tu hài nhưng thường chỉ có đại gia mới lựa chọn tu hài Canada vì mức giá cao của nó. Mỗi con nặng hơn hai cân của nhà hàng rơi vào khoảng 5 triệu đồng, ngang với một tấn thóc.
Theo nhân viên này, với một lần tiếp khách khoảng 6 người, các đại gia chỉ chọn 1 con tu hài Canada 2,5kg với mức giá 6,2 triệu đồng làm món chủ đạo kèm theo súp và rượu ngoại để tg phần hấp dẫn cho bữa .
Một bát súp nhỏ nhưng đẳng cấp được chế biến từ vi cá trùm đặc biệt hoặc vi cá bào ngư cắt lát có giá gần 1 triệu. Còn rượu dao động từ 8 - 10 triệu đồng. Vì thế, một bữa của đại gia có thể lên đến ba bốn chục triệu đồng cũng là chuyện bình thường.
Nhân viên này còn cho biết thêm, lượng tiêu thụ tu hài Canada rất tốt, mỗi lần nhập khẩu nhà hàng thường nhập cả lô hai, ba chục con và chỉ trong vòng 1 đến 1 tháng rưỡi là tiêu thụ hết, bất chấp đây là mặt hàng xa xỉ.
Thời gian gần đây nhà hàng ngày nào cũng có khách , thậm chí nhiều khi không còn hàng để đáp ứng nhu cầu của khách.
Trên một số trang web mua bán, rao vặt, tu hài được quảng cáo là đang còn sống, nhập khẩu trực tiếp từ Canada trọng lượng 0,5kg - 1,5 kg/con, chào bán với giá thấp hơn một chút so với các nhà hàng ở mức 1,4 - 1,5 triệu đồng/kg.
Ở Việt Nam tu hài cũng được nuôi và dùng làm nguyên liệu chế biến món . Tuy nhiên, tu hài Việt có kích thước nhỏ bé hơn nhiều so với tu hài ngoại.
Loại tu hài Việt Nam được bày bán rộng rãi ở các chợ, cửa hàng hải sản với mức giá dao động từ 400 - 500 nghìn/kg, hoặc ở nhà hàng với giá từ 40-45 nghìn/con.
Tuy nhiên, theo nhân viên một nhà hàng hải sản ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, nhiều khách hàng cho rằng không chỉ nhỏ bé hơn về kích cỡ, chất lượng của tu hài Việt cũng không thể sánh bằng tu hài ngoại.
Vì thế, dù giá cả đắt đỏ, các đại gia vẫn chọn tu hài ngoại để khẳng định đẳng cấp và sự sành điệu của mình.
Đại gia Việt ngày càng khẳng định độ chịu chơi khi liên tục cập nhật vào thực đơn những món đắt giá. Tu hài nhập khẩu từ Canada đang là món yêu thích bởi tin đồn về khả ng tráng dương thần kỳ của loại họ ốc này.Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001, hiện nay tu hài Canada - vua của các loài trai được một số nhà hàng hải sản của Hà Nội như Nhất Thống, Red House, San Hô, Louis... sử dụng để chế biến món cho các đại gia lắm tiền nhiều của với giá không hề rẻ: 1,9 - 2,5 triệu đồng/kg.
Tại các nhà hàng, tu hài nhập khẩu trực tiếp từ Canada, được thả trong bể và chăm sóc với một chế độ đặc biệt.
Theo đó, nước trong bể phải luôn sạch và ổn định ở nhiệt độ 10 độ C, thực khách có thể tự mình chọn lấy những con ngon nhất.
![]() |
Thực đơn tu hài Canada của một nhà hàng hải sản cao cấp |
Tu hài có hình dáng sinh động kì lạ, mà người Việt Nam lại quan niệm gì bổ nấy nên tu hài được nhiều người cho rằng tu hài đặc biệt tốt với nam giới, có tác dụng cải thiện rõ rệt khả ng sinh lý.
Một nhân viên nhà hàng hải sản cao cấp ở hồ Trúc Bạch tiết lộ, rất nhiều thực khách của nhà hàng thích tu hài nhưng thường chỉ có đại gia mới lựa chọn tu hài Canada vì mức giá cao của nó. Mỗi con nặng hơn hai cân của nhà hàng rơi vào khoảng 5 triệu đồng, ngang với một tấn thóc.
Theo nhân viên này, với một lần tiếp khách khoảng 6 người, các đại gia chỉ chọn 1 con tu hài Canada 2,5kg với mức giá 6,2 triệu đồng làm món chủ đạo kèm theo súp và rượu ngoại để tg phần hấp dẫn cho bữa .
Một bát súp nhỏ nhưng đẳng cấp được chế biến từ vi cá trùm đặc biệt hoặc vi cá bào ngư cắt lát có giá gần 1 triệu. Còn rượu dao động từ 8 - 10 triệu đồng. Vì thế, một bữa của đại gia có thể lên đến ba bốn chục triệu đồng cũng là chuyện bình thường.
Nhân viên này còn cho biết thêm, lượng tiêu thụ tu hài Canada rất tốt, mỗi lần nhập khẩu nhà hàng thường nhập cả lô hai, ba chục con và chỉ trong vòng 1 đến 1 tháng rưỡi là tiêu thụ hết, bất chấp đây là mặt hàng xa xỉ.
Thời gian gần đây nhà hàng ngày nào cũng có khách , thậm chí nhiều khi không còn hàng để đáp ứng nhu cầu của khách.
![]() |
Tu hài được nuôi trong bể dưỡng ở một nhà hàng |
![]() |
Cận cảnh tu hài Canada trong bể dưỡng của nhà hàng |
Trên một số trang web mua bán, rao vặt, tu hài được quảng cáo là đang còn sống, nhập khẩu trực tiếp từ Canada trọng lượng 0,5kg - 1,5 kg/con, chào bán với giá thấp hơn một chút so với các nhà hàng ở mức 1,4 - 1,5 triệu đồng/kg.
Ở Việt Nam tu hài cũng được nuôi và dùng làm nguyên liệu chế biến món . Tuy nhiên, tu hài Việt có kích thước nhỏ bé hơn nhiều so với tu hài ngoại.
Loại tu hài Việt Nam được bày bán rộng rãi ở các chợ, cửa hàng hải sản với mức giá dao động từ 400 - 500 nghìn/kg, hoặc ở nhà hàng với giá từ 40-45 nghìn/con.
Tuy nhiên, theo nhân viên một nhà hàng hải sản ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, nhiều khách hàng cho rằng không chỉ nhỏ bé hơn về kích cỡ, chất lượng của tu hài Việt cũng không thể sánh bằng tu hài ngoại.
Vì thế, dù giá cả đắt đỏ, các đại gia vẫn chọn tu hài ngoại để khẳng định đẳng cấp và sự sành điệu của mình.
![]() |
Tu hài Việt có kích thước nhỏ hơn tu hài nhập khá nhiều |
![]() |
Sashimi tu hài |
![]() |
Một số món khác từ tu hài |
Clip - Đại gia Hải Phòng dùng Lexus chở kiếm và chân dài lên Hà Nội
Nhãn:
Clip Thời Sự,
Dân Chơi,
Tin Vip,
video clip
Nhãn:
Buon Chuyen,
Dân Chơi,
Tin Vip

Đêm 2/3/1998: Vũ Xuân Trường và đồng bọn đã không còn cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Tại phiên toà phúc thẩm, Trường đã ngậm ngùi nói những lời cuối cùng: "Tôi vô cùng xin lỗi cha mẹ, vợ, các ...

Đêm 2/3/1998: Vũ Xuân Trường và đồng bọn đã không còn cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Tại phiên toà phúc thẩm, Trường đã ngậm ngùi nói những lời cuối cùng: "Tôi vô cùng xin lỗi cha mẹ, vợ, các ...
Đêm 2/3/1998: Vũ Xuân Trường và đồng bọn đã không còn cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Tại phiên toà phúc thẩm, Trường đã ngậm ngùi nói những lời cuối cùng:
"Tôi vô cùng xin lỗi cha mẹ, vợ, các con tôi, các anh chị em tôi vì tôi mà phải đau khổ. Cúi xin bố mẹ hãy tha thứ cho đứa con tội lỗi này. Cho tôi gửi lời xin lỗi tới các đồng nghiệp đã vì tôi mà phải liên luỵ. Cuối cùng tôi mong Đảng uỷ CATW, các vị lãnh đạo trong khi rèn luyện CBCS làm theo 6 điều Bác Hồ dạy thì hãy giám sát thường xuyên, thấy cán bộ chấm sai thì ngăn chặn ngay, đừng để quá muộn đến khi ân hận thì đã không còn có cơ hội để sửa chữa. Tôi xin cám ơn Quý toà và Hội đồng xét xử”.
![]() |
| Bị cáo Vũ Xuân Trường |
Rồi đơn xin ân xá của các bị cáo cũng bị Chủ tịch nước không xem xét. Được tin vào sớm mai sẽ thi hành án tại Trường bắn Cầu Ngà (phía sau trại giam Hoả Lò mới), chỉ có cánh nhà báo bạo gan nhất mới dám tới tìm đến . Vả lại để được vào hẳn trong trại chứng kiến từ A đến Z thì không phải báo nào cũng có cơ hội. Tôi rủ một anh bạn đồng nghiệp, một người mọi khi ăn nói rất hùng hồn nhưng khi nghe vụ này, lúc đầu anh cũng tảng lờ, rụt cổ lại định đánh bài chuồn.
Phải vào trại từ chiều tối. Dạo này đang cuối xuân đầu hè. Trời mưa phùn rả rích. Chúng tôi vào trại đã 8 giờ tối. Đèn pha bốn góc trại bật sáng trưng, nhưng bốn bề im ắng lạ thường. Có lẽ liên tưởng tới sự kiện sắp xẩy ra nên chúng tôi thần hồn nát thần tính thế thôi chứ mới đây, hôm qua, hôm kia, không gian chắc vẫn như vậy có gì khác đâu?
Tới cổng, một anh lính trẻ lăm lăm AK trước ngực lạnh lùng ngăn chúng tôi lại. Trình thẻ nhà báo nhưng anh lính trẻ vẫn tỉnh bơ. Đành gọi cho Đại tá giám thị. ông bảo: "Cậu thì vào được thôi nhưng bây giờ phải lảng đi tới nửa đêm hãy quay lại. Giải quyết cho cậu, nhỡ các nhà báo khác thấy sẽ rất khó xử. Thấy ông nói có lý, tôi và anh bạn đồng nghiệp quay ra. Vừa đến ngã ba đường rẽ vào trại thì gặp liền mấy nhà báo. Sao lại về à?. Chúng tôi không dám đỗ lại mà vừa phóng xe vừa nói với: "ông Hoành (PGĐ CATP) không cho vào đâu. Về thôi..
Tôi và anh bạn đồng nghiệp phải ngồi trốn dưới gốc cây dưới mưa tới tận gần nửa đêm mới dám lóp ngóp mò vào. Vừa đi vừa ngó trước ngó sau như thằng ăn trộm, chỉ ngại có phóng viên nào quyết ăn theo thì thật phiền. Giám thị Hoắc trực sẵn ở cổng dẫn chúng tôi vào. Tôi nằm lăn ra chiếc ghế tại phòng làm việc ngủ say như chết. Tới gần sáng, những tiếng động lẹ, tiếng chân người chạy hối hả làm tôi bừng tỉnh. Tôi hồi hộp: Sắp đến giờ hành quyết! chỉ nghĩ về tưởng tượng mà cũng thấy rờn rợn sống lưng.
3h sáng 3/3/1998: Vào lúc này, đồng loạt 7 xà lim án tử hình có tiếng lách cách mở cửa. Hẳn các tử tù biết điều gì sẽ xảy ra. Tâm trạng họ ra sao? Chắc là sự sợ hãi sẽ lên tới tột đỉnh khi biết rằng chỉ một lúc nữa sự sống của họ sẽ chấm dứt. Đã từng có quá nhiều cơ hội để họ tránh được cái chết nhưng đồng tiền lúc ấy đã làm mờ mắt họ. Tiếc thay, nhưng biết làm sao được. Luật pháp là luật pháp. Thi hành luật pháp chính là để bảo vệ cho cả cộng đồng, là đỉnh điểm của chủ nghĩa nhân đạo. Họ đã tự chấp nhận cái chết chứ chả ai muốn mang lại cho họ.
3h30: Từ nơi giam giữ ra cổng trại có một đoạn hành lang. Trên bức tường của hành lang có gắn số thứ tự từ 1 đến 7. Số 1 là vị trí của Vũ Xuân Trường, rồi số 2 Đoàn Xuân Xe, số 3 Vũ Phong Mã, số 4 Trọng Thắng, số 5 Bùi Danh Ca, số 6 Dương Ngọc Thắng, số 7 Lại Thị Ngấn. Các tử tù được dẫn ra ngồi đúng theo số.
Mỗi người được mang đến một bát phở, một cốc nước, một điếu thuốc. Hầu như không ai ăn, Xuân Xe húp ít nước rồi đặt bát xuống. Vũ Phong Mã rít thuốc thật sâu như để giấu đi sự hoảng sợ. Lại Thị Ngấn đầu tóc bơ phờ, đôi mắt thất thần, tuyệt vọng nhìn vào bóng đêm. Chỉ có Vũ Xuân Trường xỏ hai tay vào túi, diễu cợt quan sát đồng bọn.
4h: Tất cả được dẫn vào hội trường nhỏ. Lần lượt các tử tù làm thủ tục kiểm tra danh chỉ bản. Lại Thị Ngấn chưa kịp lăn tay đã ngất xỉu. Tấm thân to béo thị ngã vật xuống mặt bàn. Hai nữ y tá phải bế xốc Ngấn ra bên để tiêm thuốc trợ tim. Một lúc sau Ngấn tỉnh lại. Tình huống này đều đã được tính đến nên cán bộ trại xử lý rất nhanh gọn. Vừa chớp chớp mắt, Trường tiến đến bên cạnh nhếch chiếc răng khểnh cười khẩy: "Thế là thêm một con cave xuống đấy đủ một mâm bảy người." Nghe thấy thế Ngấn vừa trừng mắt nhìn Trường bằng đôi mắt căm thù vừa chửi tục: "Thằng mặt..." Trường vờ như không nghe thấy gì, đi về phía các nhà báo và nói với giọng thật thà: "Trong thời gian xét xử, có điều gì sai, mong các nhà báo thông cảm". Một nữ phóng viên báo ANTĐ nhìn Trường với ánh mắt thương cảm.
5h: Các tử tù được dẫn ra trường bắn. Lúc này vẫn còn rất tối. Những bóng đèn điện đỏ quạch. Mưa phùn nhẹ nhưng có cảm giác xối xả lạ thường. Ban chỉ huy ngồi trên chòi cao bao gồm đại diện Toà án, Viện kiểm sát, CATP, chính quyền địa phương. 7 tiểu đội hành quyết, mỗi nhóm gồm 5 chiến sỹ phòng CSBV sử dụng súng trường CKC và 1 chỉ huy đeo súng ngắn. Tất cả mặc áo bông, mũ bông che kín mặt. Còn có một nhóm ứng trực để đề phòng các xạ thủ chính xảy ra điều gì bất trắc thì sẽ thế chỗ ngay. Một lực lượng khác thuộc quân khu Thủ đô. Họ đã rà mìn từ chiều qua và quy định sự đi lại theo đúng sơ đồ nhưng vẫn ở lại ứng trực để xử lý các tình huống bất ngờ.
Các tử tù được dẫn tới từng huyệt đào sẵn. Cạnh huyệt là chiếc quan tài màu đỏ mở nắp sẵn. Phía trước huyệt là một thang tre cao 2m có ghi sẵn tên. Tử tù được đưa đến trói giật cánh khuỷu vào các thang tre và bịt mắt. Một lần nữa khi bị bịt mắt Lại Thị Ngấn lại ngất xỉu. Tiểu đội hành quyết đứng cách chỉ có 5m. 5 mũi súng dàn hàng ngang chĩa về phía tử tù.
5h15: Viên chỉ huy phát lệnh: "Mục tiêu trước mặt. Đối tượng. Bắn”. Đồng loạt 35 khẩu súng xiết cò. Tiếng đạn khô đanh ngắn gọn. Nhìn rõ những vệt khói. Các khung tre giật lên. Rồi không gian như chìm xuống rất sâu. Sau một khẩu lệnh nữa của viên chỉ huy, 7 chỉ huy tiến đến các các tử tù đã được đặt xuống đất. Họ rút súng ngắn thực hiện phát súng nhân đạo. Hôm ấy ở vị trí số 6 của Vũ Phong Mã không hiểu sao người chỉ huy phải thay 2 khẩu súng lục và bắn đến phát thứ 3 mới xong nhiệm vụ. Ngay sau đó lực lượng pháp y tới từng tử tù dùng ống nghe tim phổi xác định tử tù đã chết. Biên bản được ký.
Chỉ huy tuyên bố trên loa: "Kết thúc cuộc thi hành án. Thủ tục khâm liệm được tiến hành." Những nén hương lập loè lúc trời sắp sáng. Mùi nhang lẩn khuất như không chịu tan đi quanh các huyệt mộ. Tôi liều lĩnh cầm máy ảnh chụp từng tử tù. Những vệt máu chảy dài trên các khuôn mặt nhợt nhạt. Nhìn quanh anh bạn phóng viên đi cùng sợ quá đã bỏ về từ lúc nào không biết. Tôi tự hỏi: Không biết những kẻ điên cuồng buôn bán ma tuý vì lợi nhuận khổng lồ cho riêng mình mà mang đau khổ cho hàng ngàn con người có kinh hãi, có chùn tay khi chứng kiến cái cảnh hành quyết như tôi vừa chứng kiến? Họ hãy dừng bàn tay tội ác để đừng tự mình kết thúc cuộc đời trong đau đớn và nhục nhã như vậy.
Tôi trở về cơ quan khi trời đã sáng rõ. Bình minh toả nắng cùng dòng người hối hả đi làm. Họ đâu có biết bóng đêm vừa che đi một nỗi đau ghê gớm của con người và cũng do chính con người tự gây lên.
Nhật ký 11 năm trong nhà biệt giam của một tử tù-Kỳ cuối: Ánh sáng cho khát vọng sống...
Nhãn:
Buon Chuyen,
Dân Chơi
Ngày 2-9 năm ấy, người vào thăm tôi không phải là Ban Tú nữa mà là Giám thị mới Nguyễn Duy Tỵ
Đã có không ít bài báo viết về tôi và hôm ấy tôi cũng được Ban giám thị đưa xuống một tờ. Bài báo ấy viết rất nhiều điều tốt đẹp về tôi cho dù tôi đang là một tử tù. Gấp tờ báo lại, tôi nằm ngửa mặt lên ô văng "chuồng cọp" nghĩ về cuộc đời và tội lỗi của mình gây ra cho đồng loại và nghĩ đến cha già, mẹ héo đang phải thui thủi một mình chống chọi với cuộc đời, trong căn nhà xiêu vẹo chốn quê xa. Cứ nghĩ như thế, tôi thấy nhớ mẹ, nhớ nhà đến điên cuồng. Chiều hôm ấy, được cán bộ cho phép, tôi đã gọi điện về nhà. Đầu dây bên kia mẹ nghe máy với giọng run run. Chẳng nói được nhiều, nhưng nghe giọng mẹ, tôi cũng thấy được an ủi phần nào. Hai hôm sau, mẹ lại lên thăm tôi. Theo quy định, tôi phải gặp người nhà ở phòng ngăn cách bởi tấm kính, nhưng hôm ấy tôi được cán bộ đặc cách cho gặp trực tiếp mẹ. Nhìn thấy tôi, mẹ đã ôm chầm và nức nở. Đôi vai gầy của mẹ run lên bần bật và hôm ấy, tôi đã khóc rất nhiều, như đứa trẻ lên ba. Ít phút thăm gặp cũng trôi qua, trước khi rời trại giam, mẹ đã dúi vội vào tay tôi vài quả trứng đã luộc sẵn và nồi khoai lang mẹ luộc mang cho tôi để chia cho anh em trong khu biệt giam.
"Thần chết" luôn hiện về…
Tối hôm đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều và từ khi đọc bài báo viết về mình, tôi phấn chấn và hy vọng sẽ có ngày được Chủ tịch nước ân xá. Tuy nhiên, cổ nhân có nói, niềm vui "ngắn chẳng tày gang" khi mà tinh thần của tôi có phần khởi sắc thì cũng đúng lúc ấy, trong cơn ngủ say, tôi đã mơ một giấc mơ vô cùng khủng khiếp. Tôi mơ thấy mình bị đưa ra pháp trường để đền tội. 2h30 đêm hôm ấy, tôi bật thoắt dậy, mồ hôi đầm đìa. Lấy khăn lau vội mồ hôi, tôi ngồi bó gối nhìn vào khoảng không mịt mù của buồng giam và suy nghĩ vẩn vơ. Giấc mơ khủng khiếp ấy đã khiến cho tôi 2 ngày không dám ngủ và cũng chẳng thèm ăn. Điều này sau đó đã đến tai Ban Tỵ và ông xuống buồng thăm và an ủi tôi rằng: "Thế cứ yên tâm ăn, ngủ. Có những lỗi lầm được tha thứ, nhưng cũng có lỗi lầm không được tha thứ nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì Thế cũng xác định để tâm hồn mình được thanh thản, rồi Ban kể cho tôi nghe câu chuyện "Chiếc lá cuối cùng"…".
Sự quan tâm ấy đã khiến cho tôi trải qua nhiều cung bậc cảm xúc và tinh thần dần đi vào ổn định. Nhưng vào tờ mờ sáng 6-8, khi tiếng gà gáy ngoài nhà dân chuẩn bị cất lên thì tôi nghe rất rõ có nhiều tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng khóa leng keng ngoài hành lang. Khoảng 20 phút sau, tôi nghe tiếng chào vĩnh biệt của tử tù Nguyễn Trọng Điệp. Tôi bật dậy, ôm chầm lấy "Xe, Pháo, Mã" và không nói được câu nào. Cũng từ bao giờ cơ thể tôi đổ mồ hôi và tóc dựng đứng… Ngày hôm sau, Ban giám thị vào trấn an, động viên tôi và các tử tù khác. Nhưng tôi không buồn sao được khi ở ngoài đời, Điệp là bạn của tôi, huống hồ nay lại đồng cảnh ngộ.
Món quà vô giá
Cuối tháng 4-2009, thần kinh tôi bị suy kiệt và tôi được Ban Tỵ mời bác sỹ chuyên khoa của tỉnh về phối hợp với điều dưỡng của trại điều trị cho tôi. Cũng những ngày đó, tôi được Ban giám thị cho lên bệnh xá của trại để theo dõi điều trị. Nhưng chỉ 2 tiếng sau, tôi lại ôm gối, chăn từ phòng điều trị về phòng biệt giam, bởi nếu tôi nằm đó điều trị thì Xe, Pháo, Mã của tôi không ai chăm sóc và cho ăn. Mặt khác, Pháo của tôi lại vừa sinh 4 chú mèo khác được 11 ngày. Cuối giờ chiều, thấy tôi trở về buồng giam, chúng quấn lấy tôi thể hiện sự vui mừng. Mã thì trèo lên bụng rồi lại nhảy lên vai lấy "tay" cào râu, còn Pháo thì dụi vào chân đòi ăn. Nhưng lần bỏ bệnh xá này, tôi đã bị Ban Tỵ phê bình. Nhưng khi tôi trình bày về việc không nỡ bỏ Xe, Pháo, Mã mà đi trong khi bệnh thần kinh của tôi phải điều trị dài ngày. Từ hôm ấy, Ban đã thông cảm và cho y tá cấp thuốc cho tôi mỗi ngày. Hơn 1 tháng điều trị, bệnh của tôi thuyên giảm, nhưng có lẽ, "mùa xuân" lúc này đã thật sự trở về với tôi khi khoảng 8h ngày 23-6-2009, Ban Tỵ và Ban Viện lại trực tiếp vào buồng giam của tôi cho biết có Quyết định của Chủ tịch nước tha tội chết cho tôi. Tôi mừng khôn tả, bỗng nhảy lên ôm chầm lấy 2 ông. Hai hàng nước mắt chẳng bảo nhau nhưng cứ tuôn rơi. Bỗng dưng Ban Viện nghiêm nghị: "Theo quy định, anh không được phép ôm chúng tôi, nhưng hôm nay là ngày đặc biệt của anh, nên chúng tôi thông cảm…".
Trong phút chốc, tôi xin lỗi 2 ông và òa khóc nức nở. Tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc. Tôi đã khóc vì sung sướng, vì có cơ hội để sám hối và đền nghĩa những người sinh thành.
Khoảng 17h chiều hôm ấy, sau đúng 11 năm bị "xiềng", tôi đã được khai sinh lần thứ 2. Đón bó hoa chúc mừng từ tay Ban, tôi đã nguyện với lòng mình, sẽ cố gắng cải tạo thật tốt để không phụ lòng tin và thương yêu của họ. Và tối hôm ấy, tôi đã được chuyển buồng giam sang ở cùng với 4 anh em thường án khác. Tôi đã thức trắng đêm, nỗi buồn vui đan xen, lẫn lộn và những "đứa cháu" của tôi cũng chạy về sống cùng. Những con mèo tưởng chừng như vô cảm với người khác, nhưng với tôi, nó như một người bạn tri kỷ, chúng đã cùng tôi trải qua biết bao nhiêu tâm trạng, cảm xúc khác nhau ở phòng biệt giam. Cũng trong đêm ấy, tôi đã làm bài thơ "Xuân đã về". Trong đó có đoạn: Xuân đã về cây trái đã đơm bông/ Bỏ còng lao những ngày ta vui với/ Dù với ta đường về còn vời vợi/ Nhưng tin rằng rồi sẽ có ngày mai…
Hơn 1 tháng xuống "xiềng", tôi được chuyển về trại giam số 6, Bộ CA cải tạo. Trên đường đi, có biết bao nhiêu cảm xúc khó tả khi sau hơn chục năm trong buồng biệt giam, tôi đã được phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn thiên nhiên, trời đất và cảm nhận rất rõ mùi thơm của lúa khiến tôi cồn cào nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ tuổi thơ ấu thanh bình và tôi đã làm bài thơ "Mong ngày tạ tội" để tặng mẹ. Trong đó có đoạn viết: Thương mẹ nhiều con cố nén nỗi đau/ Để vươn lên trong quá trình cải tạo/ Con nguyện hứa luôn vâng lời quản giáo/ Để ngày mai được trở lại làm người/… Con sẽ về chuộc tội với quê hương/ Với mẹ già, với cha già yêu dấu/ Bởi thời gian lao tù con đã thấu/ Nỗi nhọc nhằn vất vả của mẹ cha…
Về trại cải tạo một thời gian, Thế được Ban giám thị tin tưởng giao cho làm thành viên của Ban tự quản trong phân trại số 2. Tại đây, ngoài giờ làm việc, Thế ngồi viết thơ, ôn lại kỷ niệm trong 11 năm ở phòng biệt giam để tỏ lòng tri ân với những người đã nâng đỡ, dìu dắt Thế. Bên cạnh đó, Thế muốn nói lên rằng: Ma túy hoàn toàn không phải dẫn đến thiên đường hạnh phúc mà nó sẽ dẫn con người đến địa ngục. Tội lỗi mà Thế gây ra không phải mình Thế gánh chịu mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình, người thân. Với Thế, không những có tội với pháp luật mà còn có tội với mẹ cha và gia đình. Vì vậy, Thế muốn gửi đến bạn đọc rằng: "Hỡi ơi! Xin đừng có dại dột/ Sa vào vòng ma túy, xì ke/ Hãy tránh xa con đường tội lỗi/ Để gia đình hạnh phúc bền lâu…
Hôm gặp tôi tại trại giam, Thế cầm giấy chứng nhận của Ban tổ chức cuộc thi "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện", do Tổng cục 8 tổ chức cho các phạm nhân khoe với tôi. Thế bảo rằng, hắn đã giành giải nhất trong cuộc thi viết này. Và đây là món quà vô giá dành cho hắn và sẽ nguyện cải tạo tốt mong sớm có ngày được hòa nhập cộng đồng, sám hối với mẹ cha…
(Ghi theo lời tự sự của Đặng Văn Thế, tử tù bị "lãng quên" 11 năm trong phòng biệt giam).
Đếm cuộc sống từng ngày
Có lẽ, như được Ban Tú "giao ban" lại, ông Tỵ cũng dành cho tôi những tình cảm thân thiết và chân thành ngay từ năm ông về nhậm chức. Đêm 30 Tết năm đó, vào cái thời khắc giao thừa thiêng liêng, ấm cúng trong mỗi gia đình thì ông lại dành thời gian cho những tử tù như chúng tôi. Ông bước vào phòng, phát kẹo "mừng tuổi" cho tôi và chúc rằng: "Chúc Thế đón năm mới dồi dào sức khỏe để tiếp tục cuộc "chinh chiến", chờ đợi quyết định cuối cùng của Chủ tịch nước. Hy vọng đây là cái Tết đầu tiên Ban Tỵ chúc Thế và cũng là cái Tết cuối cùng mà tôi và anh em trong Ban chúc Tết anh. Chúng tôi biết rằng, vào thời khắc thiêng liêng này, Thế rất buồn và nhớ về gia đình nhưng chúng tôi mong anh hãy kìm nén lại để hướng tới một mùa xuân ấm áp và tươi đẹp ở phía trước…". Trước lúc rời khỏi phòng biệt giam lạnh lẽo của tôi, ông còn bảo Ban Tú có gửi lời chúc Tết và dặn bao giờ cây xương rồng nở hoa thì báo cho ông ấy. Tuy nhiên, lúc Ban Tỵ rời khỏi buồng biệt giam cũng là lúc trong lòng tôi trào dâng một cảm xúc khó tả. Tôi vừa cảm động trước tấm lòng của những người đứng đầu trại tạm giam này, nhưng lại thấy nhớ nhà, nhớ gia đình da diết. Đêm đó, dù đã rất kìm nén nhưng những giọt nước mắt mặn chát vẫn lăn dài trên gò má xám xịt của tôi. Lúc ấy, tôi đã làm thơ: "10 năm rồi xa quê hương đất tổ/ Xa gia đình, xa cả vợ thân yêu/ Biết bao đêm tôi âm thầm rơi lệ/ Khi nghĩ về bố mẹ và người thân".
Sang năm mới 2008, khát vọng sống trong tôi ngày càng mãnh liệt và ngọn lửa hy vọng vẫn bừng cháy. Chỉ có điều, sức khỏe của tôi không tốt, bởi đã gần 11 năm trôi qua trong phòng biệt giam và bệnh đại tràng của tôi lại tái phát khiến sức khỏe của tôi có phần giảm sút. Ngày 1-4 năm ấy, Ban Tỵ vào thăm tôi và thấy tôi có phần gầy hơn. Biết tôi bị bệnh, Ban Tỵ đã cho y tá xuống khám và cấp thuốc cho tôi. Tôi rưng rưng, bởi tôi là một tử tù, vì đồng tiền đã làm lóa mắt chính mình và mang bất hạnh cho người khác, ấy vậy mà ở cái giây phút lâm nguy này, tôi lại được đón nhận lòng tốt, sự ban ơn của những người đứng đầu trại tạm giam.
Có lẽ, như được Ban Tú "giao ban" lại, ông Tỵ cũng dành cho tôi những tình cảm thân thiết và chân thành ngay từ năm ông về nhậm chức. Đêm 30 Tết năm đó, vào cái thời khắc giao thừa thiêng liêng, ấm cúng trong mỗi gia đình thì ông lại dành thời gian cho những tử tù như chúng tôi. Ông bước vào phòng, phát kẹo "mừng tuổi" cho tôi và chúc rằng: "Chúc Thế đón năm mới dồi dào sức khỏe để tiếp tục cuộc "chinh chiến", chờ đợi quyết định cuối cùng của Chủ tịch nước. Hy vọng đây là cái Tết đầu tiên Ban Tỵ chúc Thế và cũng là cái Tết cuối cùng mà tôi và anh em trong Ban chúc Tết anh. Chúng tôi biết rằng, vào thời khắc thiêng liêng này, Thế rất buồn và nhớ về gia đình nhưng chúng tôi mong anh hãy kìm nén lại để hướng tới một mùa xuân ấm áp và tươi đẹp ở phía trước…". Trước lúc rời khỏi phòng biệt giam lạnh lẽo của tôi, ông còn bảo Ban Tú có gửi lời chúc Tết và dặn bao giờ cây xương rồng nở hoa thì báo cho ông ấy. Tuy nhiên, lúc Ban Tỵ rời khỏi buồng biệt giam cũng là lúc trong lòng tôi trào dâng một cảm xúc khó tả. Tôi vừa cảm động trước tấm lòng của những người đứng đầu trại tạm giam này, nhưng lại thấy nhớ nhà, nhớ gia đình da diết. Đêm đó, dù đã rất kìm nén nhưng những giọt nước mắt mặn chát vẫn lăn dài trên gò má xám xịt của tôi. Lúc ấy, tôi đã làm thơ: "10 năm rồi xa quê hương đất tổ/ Xa gia đình, xa cả vợ thân yêu/ Biết bao đêm tôi âm thầm rơi lệ/ Khi nghĩ về bố mẹ và người thân".
Sang năm mới 2008, khát vọng sống trong tôi ngày càng mãnh liệt và ngọn lửa hy vọng vẫn bừng cháy. Chỉ có điều, sức khỏe của tôi không tốt, bởi đã gần 11 năm trôi qua trong phòng biệt giam và bệnh đại tràng của tôi lại tái phát khiến sức khỏe của tôi có phần giảm sút. Ngày 1-4 năm ấy, Ban Tỵ vào thăm tôi và thấy tôi có phần gầy hơn. Biết tôi bị bệnh, Ban Tỵ đã cho y tá xuống khám và cấp thuốc cho tôi. Tôi rưng rưng, bởi tôi là một tử tù, vì đồng tiền đã làm lóa mắt chính mình và mang bất hạnh cho người khác, ấy vậy mà ở cái giây phút lâm nguy này, tôi lại được đón nhận lòng tốt, sự ban ơn của những người đứng đầu trại tạm giam.
| Đặng Văn Thế đang kể về những ngày tháng trong phòng biệt giam với PV báo |
Đã có không ít bài báo viết về tôi và hôm ấy tôi cũng được Ban giám thị đưa xuống một tờ. Bài báo ấy viết rất nhiều điều tốt đẹp về tôi cho dù tôi đang là một tử tù. Gấp tờ báo lại, tôi nằm ngửa mặt lên ô văng "chuồng cọp" nghĩ về cuộc đời và tội lỗi của mình gây ra cho đồng loại và nghĩ đến cha già, mẹ héo đang phải thui thủi một mình chống chọi với cuộc đời, trong căn nhà xiêu vẹo chốn quê xa. Cứ nghĩ như thế, tôi thấy nhớ mẹ, nhớ nhà đến điên cuồng. Chiều hôm ấy, được cán bộ cho phép, tôi đã gọi điện về nhà. Đầu dây bên kia mẹ nghe máy với giọng run run. Chẳng nói được nhiều, nhưng nghe giọng mẹ, tôi cũng thấy được an ủi phần nào. Hai hôm sau, mẹ lại lên thăm tôi. Theo quy định, tôi phải gặp người nhà ở phòng ngăn cách bởi tấm kính, nhưng hôm ấy tôi được cán bộ đặc cách cho gặp trực tiếp mẹ. Nhìn thấy tôi, mẹ đã ôm chầm và nức nở. Đôi vai gầy của mẹ run lên bần bật và hôm ấy, tôi đã khóc rất nhiều, như đứa trẻ lên ba. Ít phút thăm gặp cũng trôi qua, trước khi rời trại giam, mẹ đã dúi vội vào tay tôi vài quả trứng đã luộc sẵn và nồi khoai lang mẹ luộc mang cho tôi để chia cho anh em trong khu biệt giam.
"Thần chết" luôn hiện về…
Tối hôm đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều và từ khi đọc bài báo viết về mình, tôi phấn chấn và hy vọng sẽ có ngày được Chủ tịch nước ân xá. Tuy nhiên, cổ nhân có nói, niềm vui "ngắn chẳng tày gang" khi mà tinh thần của tôi có phần khởi sắc thì cũng đúng lúc ấy, trong cơn ngủ say, tôi đã mơ một giấc mơ vô cùng khủng khiếp. Tôi mơ thấy mình bị đưa ra pháp trường để đền tội. 2h30 đêm hôm ấy, tôi bật thoắt dậy, mồ hôi đầm đìa. Lấy khăn lau vội mồ hôi, tôi ngồi bó gối nhìn vào khoảng không mịt mù của buồng giam và suy nghĩ vẩn vơ. Giấc mơ khủng khiếp ấy đã khiến cho tôi 2 ngày không dám ngủ và cũng chẳng thèm ăn. Điều này sau đó đã đến tai Ban Tỵ và ông xuống buồng thăm và an ủi tôi rằng: "Thế cứ yên tâm ăn, ngủ. Có những lỗi lầm được tha thứ, nhưng cũng có lỗi lầm không được tha thứ nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì Thế cũng xác định để tâm hồn mình được thanh thản, rồi Ban kể cho tôi nghe câu chuyện "Chiếc lá cuối cùng"…".
Sự quan tâm ấy đã khiến cho tôi trải qua nhiều cung bậc cảm xúc và tinh thần dần đi vào ổn định. Nhưng vào tờ mờ sáng 6-8, khi tiếng gà gáy ngoài nhà dân chuẩn bị cất lên thì tôi nghe rất rõ có nhiều tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng khóa leng keng ngoài hành lang. Khoảng 20 phút sau, tôi nghe tiếng chào vĩnh biệt của tử tù Nguyễn Trọng Điệp. Tôi bật dậy, ôm chầm lấy "Xe, Pháo, Mã" và không nói được câu nào. Cũng từ bao giờ cơ thể tôi đổ mồ hôi và tóc dựng đứng… Ngày hôm sau, Ban giám thị vào trấn an, động viên tôi và các tử tù khác. Nhưng tôi không buồn sao được khi ở ngoài đời, Điệp là bạn của tôi, huống hồ nay lại đồng cảnh ngộ.
Món quà vô giá
Cuối tháng 4-2009, thần kinh tôi bị suy kiệt và tôi được Ban Tỵ mời bác sỹ chuyên khoa của tỉnh về phối hợp với điều dưỡng của trại điều trị cho tôi. Cũng những ngày đó, tôi được Ban giám thị cho lên bệnh xá của trại để theo dõi điều trị. Nhưng chỉ 2 tiếng sau, tôi lại ôm gối, chăn từ phòng điều trị về phòng biệt giam, bởi nếu tôi nằm đó điều trị thì Xe, Pháo, Mã của tôi không ai chăm sóc và cho ăn. Mặt khác, Pháo của tôi lại vừa sinh 4 chú mèo khác được 11 ngày. Cuối giờ chiều, thấy tôi trở về buồng giam, chúng quấn lấy tôi thể hiện sự vui mừng. Mã thì trèo lên bụng rồi lại nhảy lên vai lấy "tay" cào râu, còn Pháo thì dụi vào chân đòi ăn. Nhưng lần bỏ bệnh xá này, tôi đã bị Ban Tỵ phê bình. Nhưng khi tôi trình bày về việc không nỡ bỏ Xe, Pháo, Mã mà đi trong khi bệnh thần kinh của tôi phải điều trị dài ngày. Từ hôm ấy, Ban đã thông cảm và cho y tá cấp thuốc cho tôi mỗi ngày. Hơn 1 tháng điều trị, bệnh của tôi thuyên giảm, nhưng có lẽ, "mùa xuân" lúc này đã thật sự trở về với tôi khi khoảng 8h ngày 23-6-2009, Ban Tỵ và Ban Viện lại trực tiếp vào buồng giam của tôi cho biết có Quyết định của Chủ tịch nước tha tội chết cho tôi. Tôi mừng khôn tả, bỗng nhảy lên ôm chầm lấy 2 ông. Hai hàng nước mắt chẳng bảo nhau nhưng cứ tuôn rơi. Bỗng dưng Ban Viện nghiêm nghị: "Theo quy định, anh không được phép ôm chúng tôi, nhưng hôm nay là ngày đặc biệt của anh, nên chúng tôi thông cảm…".
Trong phút chốc, tôi xin lỗi 2 ông và òa khóc nức nở. Tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc. Tôi đã khóc vì sung sướng, vì có cơ hội để sám hối và đền nghĩa những người sinh thành.
Khoảng 17h chiều hôm ấy, sau đúng 11 năm bị "xiềng", tôi đã được khai sinh lần thứ 2. Đón bó hoa chúc mừng từ tay Ban, tôi đã nguyện với lòng mình, sẽ cố gắng cải tạo thật tốt để không phụ lòng tin và thương yêu của họ. Và tối hôm ấy, tôi đã được chuyển buồng giam sang ở cùng với 4 anh em thường án khác. Tôi đã thức trắng đêm, nỗi buồn vui đan xen, lẫn lộn và những "đứa cháu" của tôi cũng chạy về sống cùng. Những con mèo tưởng chừng như vô cảm với người khác, nhưng với tôi, nó như một người bạn tri kỷ, chúng đã cùng tôi trải qua biết bao nhiêu tâm trạng, cảm xúc khác nhau ở phòng biệt giam. Cũng trong đêm ấy, tôi đã làm bài thơ "Xuân đã về". Trong đó có đoạn: Xuân đã về cây trái đã đơm bông/ Bỏ còng lao những ngày ta vui với/ Dù với ta đường về còn vời vợi/ Nhưng tin rằng rồi sẽ có ngày mai…
Hơn 1 tháng xuống "xiềng", tôi được chuyển về trại giam số 6, Bộ CA cải tạo. Trên đường đi, có biết bao nhiêu cảm xúc khó tả khi sau hơn chục năm trong buồng biệt giam, tôi đã được phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn thiên nhiên, trời đất và cảm nhận rất rõ mùi thơm của lúa khiến tôi cồn cào nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ tuổi thơ ấu thanh bình và tôi đã làm bài thơ "Mong ngày tạ tội" để tặng mẹ. Trong đó có đoạn viết: Thương mẹ nhiều con cố nén nỗi đau/ Để vươn lên trong quá trình cải tạo/ Con nguyện hứa luôn vâng lời quản giáo/ Để ngày mai được trở lại làm người/… Con sẽ về chuộc tội với quê hương/ Với mẹ già, với cha già yêu dấu/ Bởi thời gian lao tù con đã thấu/ Nỗi nhọc nhằn vất vả của mẹ cha…
Về trại cải tạo một thời gian, Thế được Ban giám thị tin tưởng giao cho làm thành viên của Ban tự quản trong phân trại số 2. Tại đây, ngoài giờ làm việc, Thế ngồi viết thơ, ôn lại kỷ niệm trong 11 năm ở phòng biệt giam để tỏ lòng tri ân với những người đã nâng đỡ, dìu dắt Thế. Bên cạnh đó, Thế muốn nói lên rằng: Ma túy hoàn toàn không phải dẫn đến thiên đường hạnh phúc mà nó sẽ dẫn con người đến địa ngục. Tội lỗi mà Thế gây ra không phải mình Thế gánh chịu mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình, người thân. Với Thế, không những có tội với pháp luật mà còn có tội với mẹ cha và gia đình. Vì vậy, Thế muốn gửi đến bạn đọc rằng: "Hỡi ơi! Xin đừng có dại dột/ Sa vào vòng ma túy, xì ke/ Hãy tránh xa con đường tội lỗi/ Để gia đình hạnh phúc bền lâu…
Hôm gặp tôi tại trại giam, Thế cầm giấy chứng nhận của Ban tổ chức cuộc thi "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện", do Tổng cục 8 tổ chức cho các phạm nhân khoe với tôi. Thế bảo rằng, hắn đã giành giải nhất trong cuộc thi viết này. Và đây là món quà vô giá dành cho hắn và sẽ nguyện cải tạo tốt mong sớm có ngày được hòa nhập cộng đồng, sám hối với mẹ cha…
(Ghi theo lời tự sự của Đặng Văn Thế, tử tù bị "lãng quên" 11 năm trong phòng biệt giam).
141HN: Cặp đôi chửi CSHS, "thách chiến" với 141 (tập 2)
Nhãn:
Dân Chơi,
Tin Vip
Cặp đôi này bị bắt vì lỗi không đội mũ bảo hiểm và trong máu có nồng độ cồn quá mức cho phép. Không những không chấp hành xử phạt mà đôi này còn ngang ngược chửi lại CSHS và đòi tay đôi với 141.
http://www.show9vip.com tin sock cập nhat lien tục , Clip Sock tổng hợp girl show 18+ Phim sex Online Sex viethttp://www.show9vip.com/search/Cặp đôi này bị bắt vì lỗi không đội mũ bảo hiểm và trong máu có nồng độ cồn quá mức cho phép. Không những không chấp hành xử phạt mà đôi này còn ngang ngược chửi lại CSHS và đòi tay đôi với 141. Copy Từ: http://www.show9vip.com/.
http://www.show9vip.com tin sock cập nhat lien tục , Clip Sock tổng hợp girl show 18+ Phim sex Online Sex viethttp://www.show9vip.com/search/Cặp đôi này bị bắt vì lỗi không đội mũ bảo hiểm và trong máu có nồng độ cồn quá mức cho phép. Không những không chấp hành xử phạt mà đôi này còn ngang ngược chửi lại CSHS và đòi tay đôi với 141. Copy Từ: http://www.show9vip.com/.




























